CHÙM THƠ HAY GẮN VỚI GIAI THOẠI ĐÀO DUY TỪ

 

Thêm những hiểu biết về Đào Duy Từ

Hoàng Kim

CHÙM THƠ HAY GẮN VỚI GIAI THOẠI ĐÀO DUY TỪ

"Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay"

"Ba đồng một mớ trầu cay 
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? 
Bây giờ em đã có chồng 
Như chim vào lồng như cá cắn câu 
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ 
Chim vào lồng biết thuở nào ra?... "

"Có lòng xin tạ ơn lòng 
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!"
***
Chùm thơ này đã có trong dân gian từ lâu. Gọi là chùm thơ vì đây không phải là một bài mà là ba bài gieo theo thể liên vận gắn với "Giai thoại Đào Duy Từ" . Truyện rằng: "... Năm 1627 chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong thần phục bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi lễ vật cống nạp. Chúa Sãi không chịu nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao bèn hỏi ý kiến Lộc Khê Đào Duy Từ. Theo một số tư liệu thì chính Duy Từ là người khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong rồi sau sẽ tìm kế đối phó. 

Ba năm sau thấy thời cơ thuận lợi bấy giờ Lộc Khê mới bàn với Sãi Vương sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh rồi cử sứ giả mang ra Thăng Long để tạ ơn vua Lê chúa Trịnh. 

Triều đình Đàng Ngoài nhận được mâm lễ vật tỏ ý ngờ vực bèn cho khám phá bí mật ở phía trong và cuối cùng họ đã phát hiện chiếc mâm có hai đáy. Khi đem đục ra thì thấy có sắc vua phong dạo trước và tờ giấy viết bốn câu chữ Hán sau: 

Mâu nhi vô dịch 
Mịch phi kiến tích 
Ái lạc tâm trường 
Lực lai tương địch
 

Dịch nghĩa từng câu là: chữ mâu không có dấu phết; chữ mịch bỏ bớt chữ kiến ; chữ ái để mất chữ tâm và chữ lực đối cùng chữ lai . 

Thoạt đầu chúa Trịnh và cả đình thần không ai hiểu bốn câu trên ngụ ý gì. Sau chúa phải cho vời viên quan thông thái nhất triều vào hỏi thì mới vỡ lẽ rằng trong chữ Hán chữ mâu viết không có dấu phết thì thành chữ dư . Chữ mịch" mà bỏ chữ kiến thì là chữ "bất . Chữ ái nếu viết thiếu chữ tâm thì ra chữ thụ và chữ lực để cạnh chữ lai sẽ là chữ sắc . Gộp cả bốn chữ mới lại thành câu: Dư bất thụ sắc nghĩa là Ta chẳng chịu phong . 

Chúa Trịnh thấy họ Nguyễn chối từ trả lại sắc phong bằng một mẹo kế tài tình thì vừa tức giận vừa phục tài bèn cho dò la và biết được đều do Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn Đàng Trong về với triều đình Lê - Trịnh Đàng Ngoài. 

Chúa lập mưu sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:

"Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay"

Lời thơ nói đến chuyện anh và em thuở nhỏ trèo cây hái hoa bưởi bước xuống ruộng cà hái lộc mùa xuân. Tứ thơ trong như ngọc là lời nhắn nghĩa tình nhắc ông rằng tổ tiên quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý khống chế

Tương truyền Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Ngọa Long Gia Cát đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Đào Duy Từ đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau: 

Ba đồng một mớ trầu cay 
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? 
Bây giờ em đã có chồng 
Như chim vào lồng như cá cắn câu 
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ 
Chim vào lồng biết thuở nào ra?...
 

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết ý còn bỏ ngỏ nên vẫn nuôi hi vọng bèn cho người đem lễ vật hậu hơn cầm thư chúa vào gặp Đào Duy Từ lần nữa. 

Lần này ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau: 

Có lòng xin tạ ơn lòng 
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời..."

LỜI THƠ ĐẸP HỢP LOGIC VÀ TÌNH TỤ DÂN TỘC

Chùm thơ và giai thoại trên đã tồn tại lâu dài trong bia miệng người đời. Lời thơ đẹp hợp logic và tình tự dân tộc mọi việc đều khớp đúng với sự kiện lịch sử . 

Nguyễn Hoàng chúa khởi nghiệp nhà Nguyễn có quê tại huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung). Nhà thờ họ Nguyễn hiện ở đình Gia Miêu xã Hà Long huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. Ông Nguyễn Hoàng là con thứ hai của ông Nguyễn Kim (tức Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An Thanh hầu Nguyễn Hoằng Kim) cháu của ông Nguyễn Hoằng Dụ chắt của ông Nguyễn Văn Lang đều là các trọng thần của nhà Lê. Nguyên khi xưa ông Nguyễn Kim khởi nghĩa giúp nhà Lê đánh nhà Mạc đã lấy được đất Thanh Nghệ nhưng khi thừa thắng đem quân ra đánh Sơn Nam thì bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết binh quyền giao lại cho con rể Trịnh Kiểm. Người anh của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm kiếm chuyện giết đi vì sợ đức độ và tài năng của hai anh em nhà vợ đoạt mất quyền mình. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên đã hỏi kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm và được Trạng Trình bảo rằng "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân". Ông đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa từ năm 1558. 

Đào Duy Từ sinh năm 1572 ở làng Hoa Trai huyện Ngọc Sơn phủ Tỉnh Gia tỉnh Thanh Hóa. Năm ông ra đời thì Trịnh Kiểm vừa mới mất (1570) trao quyền lại cho Trịnh Cối để lo việc đánh dẹp. Trịnh Cối say đắm tửu sắc tướng sĩ nhiều người không phục. Trịnh Tùng con thứ của Trịnh Kiểm đã rước vua Lê về đồn Vạn Lại và công khai chống lại anh ruột Nhân lúc anh em họ Trịnh đánh nhau Mạc Kính Điển cùng với các danh tướng Nguyễn Quyện Mạc Ngọc Liễn đem 10 vạn quân vào đánh Thanh Hóa. Trịnh Cối liệu thế không địch nổi đã đầu hàng Mạc. Trình Tùng đưa vua về Đông Sơn phòng ngự chắc chắn liều chết cố thủ. Mâc Kính Điển đánh mãi không được lâu ngày hết lương phải rút quân về. Trình Tùng oai quyền vượt vua Anh Tông lo ngại tìm cách giết Trịnh Tùng. Mưu việc không thành vua sợ chạy vào Nghệ An bị Trịnh Tùng lập vua mới Thế Tông Lê Duy Đàm bảy tuổi lên làm vua và cho người truy sát giết chết vua cũ. Suốt 10 năm 1573-1583 Trịnh Tùng cố thủ vững chắc Thanh Hóa. Sau khi Mạc Kính Điển mất (1579) thế lực hai bên thay đổi. Năm 1591 Trịnh Tùng cử đại binh đánh ra Thăng Long bắt được Nguyễn Quyết phá hào lũy và rút về Thanh Hóa. Vua Mạc Mậu Hợp say đắm vợ người bạc đãi tướng sĩ làm nát cơ nghiệp nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Văn Khuê về hàng nhà Lê. Trịnh Tùng đem đại binh trở lại Thăng Long đánh tan quân Mạc giết Mạc Mậu Hợp. Nhà Mạc mất ngôi. Con cháu nhà Mạc giữ đất Cao Bằng được ba đời nữa. Vua Lê chỉ còn trên danh nghĩa được cấp bổng lộc thượng tiến thu thuế 1000 xã và 5000 lính túc vệ và chỉ thiết triều tiếp sứ. Mọi việc lớn nhỏ đều do chúa Trịnh điều hành. Họ Trịnh tôn Lê vì sợ nhà Minh sinh sự lôi thôi và sợ những kẻ chống đối lấy cớ phù Lê hơn nữa họ Nguyễn có thế lực mạnh và họ Mạc còn đang giữ đất Cao Bằng .  
Năm 1572 nhân lúc anh em Trịnh Cối Trịnh Tùng đánh nhau nhà Mạc đem quân đánh Thanh Hóa và cho một cánh thủy quân do tướng Lập Bạo chỉ huy đánh Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng đã cho gái đẹp Ngô thị giả cách đưa vàng bạc đến cầu hòa dụ Lập Bạo ra ái ân trên bãi biển vắng. Lập Bạo không đề phòng nên bị quân Nguyễn trong cát nổi lên giết chết. Quân Mạc bị đánh tan.  

Nguyễn Hoàng từ năm 1592 đến năm 1600 đã kéo quân ra Bắc giúp Trịnh diệt Mạc và lập được nhiều công to nhưng Trịnh Tùng luôn để ý đề phòng và Nguyễn Hoàng đã không thể có cớ gì để trở lại đất cũ. Năm 1600 nhân dịp đi đánh giặc Nguyễn Hoàng đã theo đường biển về lại Thuận Hóa. Sợ họ Trịnh nghi ngờ ông đã gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng là con trai thứ của Trịnh Tùng. Năm 1613 Nguyễn Hoàng sắp mất gọi người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào dặn rằng: "Đất Thuận Quảng này bên bắc thì có núi Hoành Sơn sông Linh Giang bên nam có Hải Vân và núi Bì Sơn thật là một nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân luyện tập quân sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời"

Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha giữ đất phương Nam theo đúng lời di huấn của cha "thương yêu nhân dân luyện tập quân sĩ" bên ngoài kính cẩn nhận chức do vua Lê phong cho giữ hòa hiếu với anh rể Trịnh Tráng nhưng bên trong đã ngầm súc tích nội lực tỉnh táo đối phó với mưu mô giảo hoạt tìm mọi cách thôn tính khống chế của họ Trịnh. 

Đào Duy Từ với tầm nhìn xa rộng và nhãn quan chính trị sâu sắc đã nhận ra tình cảnh trớ trêu trên. Hình thái Lê Trịnh Mạc Nguyễn thời ấy thật giống như "Tam Quốc": Họ Trịnh noi cách Tào Tháo mượn uy thiên tử để sai khiến chư hầu. Họ Mạc tuy sức cùng lực kiệt nhưng được nhà Minh hậu thuẫn Nhà Minh luôn rình đợi thời cơ để can thiệp vào nước ta như cách "giúp Trần cầm Hồ" của triều trước. Họ Nguyễn giữ đất phương Nam chân chúa lô rõ hiền tài theo về. Đào Duy Từ như Ngọa Long ở Long Trung ẩn nhẫn đợi thời. Ông chỉ quyết định vào Nam khi đã định rõ minh quân danh tướng chiến lược sách lược các đối sách trước mắt và lâu dài của bàn cờ lớn.

Lịch sử ghi nhận Đào Duy Từ đã rời quê hương vào Đàng Trong lập nghiệp năm 1625 khi ông đã 53 tuổi. Ông là người tinh thông sử sách có tài văn võ nhưng không được đi thi vì là con nhà ca xướng. Bố của ông là Đào Tá Hán trước làm lính cấm vệ trong triều Lê Trịnh bị phạm húy khi làm thơ đã dám nói tên của chúa Trịnh Kiểm nên bị phạt đánh đòn và đuổi về nhà làm dân thường. Bố của ông sau trở thành kép hát nổi tiếng khắp vùng và kết duyên với bà Vũ Thị Kim Chi ở làng Ngọc Lâm. Đào Duy Từ được sinh ra ở làng Hoa Trai khi ông lên năm thì bố bị bệnh mất người mẹ ở góa tần tảo nuôi con ăn học. Theo luật lệ của triều đình bấy giờ thì con cái những người làm nghề ca xướng đều không được quyền thi cử. Bà Kim Chi tiếc cho tài học của con nên đã nhờ viên xã trưởng đổi họ Đào của con theo cha thành họ Vũ theo mẹ. Đào Duy Từ đã đỗ á nguyên tại kỳ thi Hương năm 1593 lúc ông 21 tuổi vào đời vua Lê Thế Tông (l567-1584). Ông dự thi Hội thì bị viên xã trưởng mật báo và tố giác vì mẹ ông đã không chịu gian díu với hắn. Ông bị cấm thi vì trọng tội "gian lận trong thi cử" bị giam giữ xét hỏi trong khi mẹ ông ở nhà đã phẫn uất tự tử. Đào Duy Từ vào Nam sau ba mươi năm trầm tĩnh đợi thời. Ứng xử của ông như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhẫn nại đợi hai mươi năm mới ra dự thi triều Mạc và lập tức đoạt được Trạng nguyên. Đào Duy Từ cũng chọn hướng vào Nam rất sâu sắc có tính toán và đúng thời cơ. Đây không phải là một sự uất ức tầm thường mà  là sự nhẫn nại của bậc trí giả thời thế nhiễu loạn vàng lầm trong cát đấy thôi. 

GIAI THOẠI LUNG LINH HUYỀN ẢO CHINH PHỤC LÒNG NGƯỜI

Giai thoại dân gian kể rằng chính trong thời gian Đào Duy Từ gặp cảnh ngộ éo le phạm quy tại trường thi thì chúa Nguyễn Hoàng đang viếng thăm phần mộ của cha ông xây cất ở vùng Tống Sơn. Nguyễn Hoàng đã đến thăm Thái phó Nguyễn Hữu Liêu và tình cờ nghe được chuyện kể về tài năng cùng số phận hẩm hiu của người học trò nghèo Đào Duy Từ. Chúa đem lòng ái mộ cảm mến nên đã tìm gặp và ngầm giúp Từ tiền bạc để sinh sống. Khi Nguyễn Hoàng đến thăm Đào Duy Từ. Chúa chợt thấy trên vách buồng Duy Từ đang ở có treo bức tranh cầu hiền vẽ ba anh em Lưu Bị thời Tam Quốc bên Tàu lặn lội tìm đến đất Long Trung để vời đón Gia Cát Lượng là một bậc hiền tài. 

Nguyễn Hoàng bèn chỉ lên bức tranh tức cảnh đọc mấy câu thơ để tỏ lòng cầu hiền của chúa và cũng để dò xét tâm ý Đào Duy Từ: 

Vó ngựa sườn non đá chập chùng 
Cầu hiền lặn lội biết bao công 

Duy Từ bèn đọc tiếp: 

Đem câu phò Hán ra dò ý 
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng ...
 

Nguyễn Hoàng nối thêm: 

Lãnh thổ đoạn chia ba xứ sở 
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông
 

và Duy Từ kết 

Ví như chẳng có lời Nguyên Trực 
Thì biết đâu mà đón Ngọa Long
 

Sau này khi Nguyễn Hoàng đã mất Đào Duy Từ vào Nam . Ông chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở Bình Định. Chủ nhà là người ham mê văn học đã phát hiện ra Đào Duy Từ là người có tài nên đã tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lý Trần Đức Hòa. Vì mến tài của Đào Duy Từ Trần Đức Hòa đã gả con gái cho đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ Chúa Sãi đã phong cho ông làm Nha uý Nội tán.

Được Chúa Nguyễn trọng dụng Đào Duy Từ đã hết lòng giúp chúa Nguyễn đạt được những kỳ tích lạ lùng trong lịch sử:

1) Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc. Ông đã cùng các danh tướng Nguyễn Hữu Dật Nguyễn Hữu Tiến bày mưu định kế luyện tập quân sĩ xây đồn đắp lũy tổ chức tuyến phòng ngự chiều sâu từ phía nam sông Linh Giang đến Lũy Trường Dục (ở huyện Phong Lộc tỉnh Quảng Bình) và Lũy Thầy (từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu Đồng Hới tỉnh Quảng Bình). Suốt thời Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài suốt 45 năm (1627-1672) đánh nhau cả thảy bảy lần họ Trịnh thường mạnh hơn nhưng quân Nam tướng sĩ hết lòng đồn lũy chắc chắn nên đã chống cự rất hiệu quả với quân Trịnh. 

2) Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh nước lớn lên người nhiều ra. 

3) Đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn sửa sang chính trị quan chế thi cử võ bị thuế khóa nội trị ngoại giao. Với tài năng tổ chức kiệt xuất của Đào Duy Từ chỉ trong thời gian ngắn ngủi chín năm (1625-1634) ông đã kịp xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân. Do vậy sau đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn truyền thêm được bảy đời nữa .

4) Những di sản của Đào Duy Từ để lại đều là những kiệt tác: Binh thư "Hổ trướng khu cơ" sâu sắc thực tiễn mưu lược yếu đánh mạnh ít địch nhiều là một trong hai bộ sách quân sự cổ quý nhất của Việt Nam (bộ kia là Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo) ; Nhã nhạc cung đình Huế vũ khúc tuồng cổ Sơn Hậu gắn với di sản văn hóa Huế thành di sản văn hóa thế giới; Những giai thoại ca dao truyền đời trong tâm thức dân tộc của lòng dân mến người có nhân.

Đào Duy Từ mãi mãi là một người Thầy đức độ tài năng của dân tộc Việt.. 



(Do GS-TS HOÀNG KIM biên soạn)

HKL

HK

LỜI THƠ ĐẸP HỢP LOGIC VÀ TÌNH TỤ DÂN TỘC

@

CHÙM THƠ HAY

"Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay"

"Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?... "

"Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!"

sh

Thăm bạn đọc chùm thơ hay gắn với giai thoại về Đào Duy Từ rất ý nghĩa thú vị.
Chúc bạn ngày vui!

Viết bởi catbien @ 05:20 2011-04-24
................................

KL rất vui cảm ơn bạn CÁT BIỂN ghé đọc và nhận xét thân tình nhé!

sh

[Trả lời]

Anh sang thăm em ngày chủ nhật...

Viết bởi Hoài Khánh @ 14:37 2011-04-24
..............................
KL rất vui cảm ơn nhà báo Hoài Khánh tặng hoa đẹp nhé!

sh

Cảm ơn em có bài viết hay . chúc em vui vẻ

Viết bởi Nguyễn si Lương @ 04:21 2011-04-24

............................

KL cảm ơn nt Nguyễn sỹ Lương ghé tặng hoa đẹp nhé!

kl

KL cảm ơn nt Nguyễn sỹ Lương ghé tặng hoa đẹp nhé!

kl

Rất cảm ơn bài viết về ba bài thơ "Trèo lên..."
Anh cứ nghĩ là ca dao đấy nhé.
Đào Duy Từ là một người quá tài giỏi chúng ta luôn luôn biết ơn và tôn kính.
Mong KL tiếp tục đăng những bài viết như trên để giới thiệu cùng bạn đọc trong đó có anh để có thêm kiến thức bổ ích.

Viết bởi Vũ Quốc Khánh @ 23:56 2011-04-23
........................

Rất vui cảm ơn nhà thơ ghé đọc khen tặng và có lời động viên blogs KL nhé!
Chúc anh tối CN an vui !

Hoài Khánh

Anh sang thăm em ngày chủ nhật...

catbien

Đào Duy Từ

Thăm bạn đọc chùm thơ hay gắn với giai thoại về Đào Duy Từ rất ý nghĩa thú vị.
Chúc bạn ngày vui!

Nguyễn si Lương

Tiện ích upload ảnh miễn phí  không cần đăng ký! | up.anhso.net

...........
Cảm ơn em có bài viết hay . chúc em vui vẻ